Kiến thức Công Giáo
Do Liên Giáo Sĩ & Tu Sĩ Công Giáo Việt Nam tại Canada thực hiện
Số tháng 11/2010
Kính thưa quí Cha, quí tu sĩ nam nữ và anh chị em giáo dân Việt Nam ở Canada.
Kiến thức Công Giáo do Liên Giáo Sĩ & Tu Sĩ Công Giáo Việt Nam tại Canada thực hiện hầu mang chút ít hiểu biết, đơn sơ nhưng cần thiết trong đời sống đạo đến với người Công Giáo Việt Nam tại Canada.
Đây là một công hiến vô vị lợi. KTCG được gửi đến tất cả 20 Cộng Đoàn Công Giáo lớn nhỏ người Việt Nam ở Canada. Kính xin quí Cha cho phép những tờ KTCG nầy đến tay bà con giáo dân.
Tuy nhiên, nếu thấy kkông cần. Xin E-mail cho biết là KHÔNG CẦN – MIỄN GỬI và chúng tôi sẽ không gửi tiếp.
Xin gửi lời chào bình an và ơn lành Chúa đến quí Cha, quí tu sĩ và bà con giáo dân.
Linh mục Phêrô Trần thế Tuyên
4410 – 51 Ave. St. Paul AB. T0A 3A2
Tel. (780) 645- 3277 Ext. 29
Cell.(780) 862- 9778
E-mail: hongancanada@yahoo.ca
Thắc mắc: ROME, ngày 7 tháng 3, 2010, Zenit.org cho tin tin rằng: Hôm nay Đức Thánh Cha Benedictô thứ XVI nói với các giáo dân của một giáo xứ ở Rôma là cần có sự thay đổi não trạng, để thấy giáo dân là những người có chung trách nhiệm trong giáo xứ, chứ không chỉ là cộng sự viên của linh mục mà thôi.
Có tài liệu nào qui định về Hội Đồng Mục Vụ, trách nhiệm và quyền hạn không? Thực ra, trong các giáo xứ Việt Nam, Ông trùm, Ông Chánh hay thành viên của Hội Đồng Mục Vụ chỉ là những người thừa hành lệnh của Cha Xứ, “sai đâu đánh đó” chứ có quyền hành hay trách nhiệm gì đâu mà gọi “đồng chịu trách nhiệm!”?
Khái quát: Tín hữu Công Giáo, tức những người tin vào Chúa Kitô và được rửa tội theo nghi lễ Công Giáo Rôma và được chia thành hai thành phần: Giáo Sĩ và giáo dân. Giáo Lý Công Giáo và tài liệu Công đồng Vatican II đề cập đến 3 thành phần dân Chúa: Giáo Sĩ – Tu Sĩ và Giáo Dân. Tuy nhiên, Giáo Luật chỉ phân biệt hai thành phần: Giáo sĩ là những người đàn ông đã được rửa tội và đã được phong chức Giám Mục, linh mục hay phó tế. Giáo dân là thành phần còn lại, tức thành phần đã rửa tội và không có chức thánh, trong đó có cả tu sĩ nam nữa.
Giáo huấn của Giáo Hội, Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, Ánh Sáng Muôn Dân, Lumen Gentium và bộ Giáo Luật của Hội Thánh Công Giáo năm 1983 qui định những nghĩa vụ và quyền lợi của những thành phần dân Chúa trong Giáo Hội như Giám Mục, linh mục, Phó tế và Giáo Dân. Ở đây, chỉ xin đề cập đến nghĩa vụ và quyền lợi của Cha sở và giáo dân trong giáo xứ để thấy thế nào gọi là đồng chịu trách nhiệm trong giáo xứ như Đức Thánh Cha nhắn nhủ.
Nghĩa vụ và quyền lợi của Cha sở hay Nhiệm vụ và quyền hạn của Cha Sở
De Parochis Obligationibus et Iuribus
The Obligations and rights of Parish priest
Có người dùng từ “CHỨC QUYỀN” để phân biệt chức linh mục và quyền thi hành nhiệm vụ linh mục. Trong nghĩa nầy, chức quyền có nghĩa là priesthood and faculty hay sacerdotium et facultas. Từ “chức quyền”, thoạt nghe, xem chừng dễ hiểu, nhưng lại mù mờ và mang sắc thái thế tục, không được Giáo Hội xử dụng trong các văn kiện chính thức.
Giáo Hội dùng từ “nghĩa vụ và quyền lợi” hay nhiệm vụ và quyền hạn để nói lên ý nghĩa của từ “Ius” trong tiếng Latinh. Từ “quyền hạn” dịch từ “Ius” trong tiếng Latinh không ám chỉ quyền hành thế tục, nhưng quyền được trao ban do chức thánh, để chu toàn trách nhiệm thánh. Nên quyền, tức “Ius” và nhiệm vụ tức “munus” phải luôn gắn liền nhau. Không thể có nhiệm vụ mà không có quyền hay không thể gọi là thi hành quyền để cho oai mà không nhằm chu toàn nhiệm vụ thánh được trao ban.
Thí dụ: Chỉ có thừa tác viên có chức thánh được quyền giảng trong Thánh lễ. Đó là một trong ba nhiệm vụ mà Cha sở buộc phải thi hành: Giáo huấn (Munus docendi) – Thánh hoá (munus sanctificandi) và lãnh đạo (munus regendi). Nên Cha sở không được né tránh quyền giáo huấn, hay quyền giảng dạy giáo dân mình. Vì quyền nầy có là để chu toàn nhiệm vụ giáo huấn. Nên nó không là quyền để thao túng hay mang lợi cho cá nhân mình, hay để thị uy, nhưng vì phần rỗi các linh hồn.
Giáo Luật điều 515 số § 1 qui định Cha sở là chủ chăn của giáo xứ dưới quyền của Giám Mục địa phận “Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong Giáo Hội địa phương, và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho Cha Sở làm chủ chăn riêng, dưới quyền của Giám Mục giáo phận” Vì là chủ chăn của giáo xứ, nên nhiệm vụ thánh hoá của Cha sở được qui định rõ trong điều 530: Những trách vụ đã được ủy thác đặc biệt cho Cha Sở là:
1. ban Bí Tích Rửa Tội;
2. ban Bí Tích Thêm Sức cho những người ang trong lúc nguy tử, theo quy tắc của điều 883 số 3;
3. ban của Ăn Ðàng và Bí Tích Xức Dầu, tuy vẫn tôn trọng quy tắc của điều 1003 triệt 2 và 3; và ban Phép Lành Tòa Thánh cho các bệnh nhân;
4. chứng giám Hôn Phối và làm phép cưới;
5. cử hành lễ nghi an táng;
6. làm phép Giếng Rửa Tội trong mùa Phục Sinh, chủ sự các cuộc rước ngoài thánh đường, và việc ban phép lành trọng thể ngoài thánh đường;
7. cử hành thánh lễ cách trọng thể hơn trong các ngày Chúa Nhật và trong các ngày Lễ Buộc.
Vì là chủ chăn của giáo xứ, nên nhiệm vụ quản trị của Cha sở được qui định rõ trong Giáo Luật, điều 532, Cha Sở, người duy nhất có quyền đại diện giáo xứ về mặt pháp lý “Trong tất cả mọi hành vi pháp lý, Cha Sở là người đại diện của giáo xứ chiếu theo quy tắc luật định; ngài phải lo để mọi tài sản của giáo xứ được quản lý theo quy tắc của các điều 1281-1288”
Công Đồng Vatican II, trong Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, số 28 cũng qui định rõ về quyền hạn và nhiệm vụ của linh mục ở giáo xứ: “Nhờ bí tích Truyền Chức Thánh, linh mục được cung hiến theo hình ảnh Chúa Kitô, thầy cả Thượng Phẩm vĩnh viễn (x. Dth 5,1-10; 7,24; 9,11-28), để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc thờ phượng Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước”
Như vậy, chỉ có Cha sở và chỉ có mình Ngài được trao ban trách nhiệm và quyền hạn chăn dắt giáo xứ dưới quyền của Giám Mục địa phận mà thôi. Nên Cha sở, dù linh mục địa phận hay linh mục dòng, vẫn phải vẫn phải theo qui chế của địa phận và trực thuộc quyền Giám Mục địa phận.
Nghĩa Vụ Và Quyền Lợi Của Các Tín Hữu hay Nhiệm vụ và quyền hạn của tín hữu.
De Omnium Christifidelium Obligationibus et Iuribus/The Obligations and rights of All the Christian Faithful
Nhiệm vụ của giáo dân:
- Hiệp thông và chu toàn trách nhiệm theo luật định
Giáo Luật điều 209: §1 Các tín hữu buộc phải luôn luôn duy trì sự hiệp thông với Giáo Hội, kể cả trong đường lối hành động.
§2 Họ phải chuyên cần chu toàn mọi trách vụ đối với Giáo Hội hoàn vũ cũng như đối với Giáo Hội địa phương mà họ trực thuộc chiếu theo luật.
2. Sống thánh giữa đời và rao giảng tin mừng:
Giáo Luật điều 210: Tất cả các tín hữu, tùy theo điều kiện riêng mình, phải cố gắng hết sức sống đời thánh thiện, và lo cho Giáo Hội được phát triển và được thánh hóa liên lỉ.
Giáo Luật điều 211: Tất cả các tín hữu có nghĩa vụ và quyền lợi phải làm sao cho sứ điệp cứu độ của Thiên Chúa càng ngày càng được truyền tới hết mọi người, thuộc mọi thời và mọi nơi.
Quyền hạn của giáo dân:
- Vâng phục chủ chăn, tức Cha sở và Giám Mục địa phận
Giáo Luật điều 212: §1 Ý thức trách nhiệm riêng của mình, các tín hữu, với lòng vâng phục Kitô Giáo, phải tuân theo những điều mà các vị Chủ chăn có chức thánh đại diện Chúa Kitô, tuyên giảng với tư cách là các thầy dạy đức tin hoặc qui định với tư cách là người lãnh đạo Giáo Hội.
- Bày tỏ ước vọng và góp ý xây dựng Giáo Hội với lòng tôn kính và vì công ích.
Giáo Luật điều 212: §2 Các tín hữu có quyền trình bày cho các Chủ chăn của Giáo Hội, các nhu cầu của mình, nhất là các nhu cầu thiêng liêng, và các ước vọng của mình.
§3 Tùy theo kiến thức, chuyên môn và tài ba của mình, họ có quyền, và đôi khi kể cả bổn phận, bày tỏ cho các Chủ chăn có chức thánh biết ý kiến của mình liên quan tới lợi ích của Giáo Hội. Họ cũng có quyền biểu lộ ý kiến của mình cho các tín hữu khác, miễn là bảo vệ sự vẹn toàn của đức tin và luân lý, cũng như sự tôn kính đối với các Chủ chăn, và để ý đến công ích và phẩm giá của tha nhân.
Hiến Chế tín lý về Giáo Hội của Công Đồng Vatican II số 31 định nghĩa Giáo dân là những người đã được tháp nhập vào thân thể Đức Kitô qua bí tích rửa tội. Giáo dân có nhiệm vụ tham gia theo phận vụ riêng mình vào chức vụ tiên tri, tư tế và vương đế của Chúa Giêsu để kiện toàn Giáo Hội “Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ và bậc tu trì được Giáo Hội công nhận; nghĩa là những Kitô hữu đã được tháp nhập vào Thân Thể Chúa Kitô nhờ phép Thánh Tẩy, đã trở nên Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, tiên tri và vương giả của Chúa Kitô theo cách thức của họ; họ là những người đang thực hiện sứ mệnh của toàn dân Kitô giáo trong Giáo Hội và trên trần gian theo phận vụ riêng của mình”
Hội Đồng Mục Vụ trong Giáo xứ: Parish Pastoral Council – Consilium Pastorale in paroecia
Giáo Luật điều 536: §1 qui định: Nếu Giám Mục giáo phận xét là thuận lợi, sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Ðồng Linh Mục, thì trong mỗi giáo xứ nên thành lập Hội Ðồng Mục Vụ, do Cha Sở chủ tọa, và trong đó các tín hữu cùng với những người chiếu theo chức vụ tham gia vào việc săn sóc mục vụ trong giáo xứ cùng đóng góp sự cộng tác của mình vào việc cổ võ sinh hoạt mục vụ.
§ 2 Hội Ðồng Mục Vụ chỉ có quyền tư vấn, và được điều hành theo các quy tắc do Giám Mục giáo phận đã ấn định.
Giáo Luật, điều 537: Mỗi giáo xứ phải có Hội Ðồng Kinh Tế được điều hành bởi luật phổ quát và bởi các quy tắc do Giám Mục giáo phận ban hành; trong Hội Ðồng ấy, các tín hữu được tuyển chọn theo các quy tắc vừa nói, giúp Cha Sở trong việc quản lý mọi tài sản của giáo xứ, tuy vẫn tôn trọng quy định của điều 532.
Hai khoản Giáo Luật trên, cho chúng ta những lưu ý sau:
- Luật không buộc mỗi giáo xứ phải có Hội Đồng Mục Vụ, có hay không tuỳ xét đoán của Giám Mục địa phận. Nhiều nơi, Cha sở chỉ cần một ít người có giờ giấc, có khả năng và có nhiệt tâm giúp Cha Sở chăm lo cho giáo xứ. Tuy nhiên luật buộc phải có Hội Đồng tài Chánh.
- Giáo luật luôn dùng từ Giáo Xứ và Cha Sở. Nhiều cộng đoàn Việt Nam không được công nhận là giáo xứ, mà chỉ ở cấp cộng đoàn hay nhóm sắc tộc có ngôn ngữ riêng. Những linh mục chăm sóc cộng đoàn nầy cũng không được gọi là Cha sở hay Parochus, mà chỉ là quản nhiệm, administrator hay điều động viên, moderator mà thôi. Nếu không được coi là giáo xứ theo giáo luật thì không cần có Hội Đồng Mục Vụ. Thường chỉ nên để cử hay chọn một ít người hợp tác với linh mục lo việc chung. Nếu đã không được nhìn nhận là Hội Đồng Mục Vụ thì cũng chỉ nên gọi người đứng đầu là Ông hay Bà Trưởng Ban Đại Diện thôi.
- Hội Đồng Mục Vụ ở mỗi giáo xứ phải do Cha Sở chủ toạ - Pastor presides – Parochus praeest. Nên từ “chủ tịch hội đồng mục vụ giáo xứ” mà chúng ta vẫn quen gọi hay nhiều người vẫn xưng danh chỉ nên hiểu trong ý nghĩa khiêm tốn là người được đề cử để giúp Cha Sở lo việc chăm sóc giáo xứ và phục vụ các linh hồn, chứ không là Ông chánh Trương hay người lãnh đạo Giáo Xứ gì cả. Có những tâng bốc quá đáng, khi gọi: Thưa bà chủ tịch! Thực sự ra bà nầy chỉ là vợ Ông chủ tịch HĐMV thôi. Vợ Ông chủ tịch thật khác xa với bà chủ tịch.
- Hội đồng Mục Vụ tham gia, đóng góp và cộng tác vào sinh hoạt mục vụ Giáo Xứ. Phải có tinh thần hợp tác và xây dựng công ích.
- Hội đồng Mục Vụ chỉ có quyền tư vấn cho Cha Sở. Nên những tuyên bố như: chúng tôi, HĐMV quyết định thế nầy... thế nọ là đi hơi xa với luật định.
Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội số 32 để cập đến vai trò hợp tác của giáo dân trong sinh hoạt Giáo Hội: “Các chủ chăn trong Giáo Hội noi gương Chúa phải phục vụ lẫn nhau và phục vụ các tín hữu khác; phần các tín hữu phải sẵn lòng hợp tác với các chủ chăn và những người giảng dạy. Như thế, tuy khác biệt nhau, nhưng tất cả đều làm chứng sự duy nhất kỳ diệu trong Thân Thể Chúa Kitô. Thực vậy, chính sự khác biệt về ân huệ, chức vụ và hoạt động lại là mối dây kết hợp con cái Thiên Chúa làm một, vì "mọi sự ấy là công trình của cùng một Thánh Thần duy nhất" (1Cor 12,11).
“Phần các chủ chăn, nhờ sự trợ lực kinh nghiệm của giáo dân, các ngài có thể phán đoán minh bạch và đúng đắn hơn về những vấn đề thiêng liêng cũng như trần thế; như vậy, toàn thể Giáo Hội được vững mạnh nhờ tất cả mọi chi thể, sẽ chu toàn hữu hiệu hơn sứ mệnh mình đối với sự sống của thế gian.”
Khi kêu gọi giáo dân “chung trách nhiệm trong giáo xứ!” Đức Giáo Hoàng Bênêdictô Thứ XVI không có ý nâng giáo dân hay Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ lên ngang hàng với Cha sở, để họ cũng có quyền giảng dạy, quyền thánh hoá và quyền lãnh đạo Giáo xứ như Cha Sở. Chung trách nhiệm, hay đồng trách nhiệm không có nghĩa là cùng quyền hạn và cùng nhiệm vụ, nhưng chỉ là chung vai gánh vác việc giáo xứ. Nói khác đi, vận mạng hay tương lai của giáo xứ tuỳ thuộc vào tất cả mọi người chứ không phải chỉ riêng gì của Cha Sở. Câu nói nầy cũng na ná như một cổ võ tinh thần xây dựng đất nước của nhà lãnh đạo chính trị, khi ông nói: Vận mạng đất nước của chúng ta tuỳ thuộc vào tất cả mọi người chúng ta, là công dân! Cũng giống như Cha Mẹ nói với con cái trong gia đình: Chúng ta phải chung sức xây dựng gia đình bằng cách đóng góp trả nợ nhà và tiết kiệm khi xử dụng điện nước trong nhà. Đó, gọi là chung trách nhiệm! Con cái khi chung vai gánh vác việc nhà không có nghĩa là thay thế quyền lãnh đạo gia đình của Cha Mẹ mình.
Đức Giáo Hoàng phải nói như thế vì người ta thường mang não trạng: Chỉ có Cha Sở là có trách nhiệm lo cho giáo xứ - Chỉ có Cha sở là có nhiệm vụ rao giảng tin mừng hay chỉ có Cha sở là phải tìm mọi cách để duy trì giáo xứ. Còn giáo dân, sống vô tư, mỗi tuần đến nhà thờ một lần, dự lễ một tiếng đồng hồ, bỏ $10 đồng vào rỗ xin tiền là xong. Không, Giáo xứ là Giáo Hội địa phương, có giờ phụng vụ nhất định. Tuy nhiên, Giáo Xứ là cộng đoàn đức tin, là thân thể Chúa Kitô, phải sống mạnh và phải phát triễn liên tục. Đồng trách nhiệm là phải bỏ đi những kiểu đổ thừa như: Giáo xứ nầy ít người đi lễ là tại Cha. Giáo xứ nầy èo ọt là tại Cha. Giáo xứ nầy buồn tẻ là tại Cha. Không! Là tại tất cả mọi tín hữu trong giáo xứ. Mọi người là thành phần trong thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô, thân thể mạnh yếu là trách nhiệm của mọi người, chứ không tại một cá nhân nào cả.
“Chung trách nhiệm, chứ không chỉ là cộng sự viên của linh mục!” Có nhiều người hiểu giáo xứ là của linh mục, vận mạng giáo xứ là do linh mục. Bên cạnh đó, cũng có người lãnh trách nhiệm gì trong giáo xứ là vì linh mục. Nên khi có linh mục khác đến, hay linh mục khác không thân quen, không có cảm tình thì bất hợp tác hay bỏ mặc, buông xuôi. Sai hoàn toàn! Giáo xứ là cộng đoàn dân Chúa, sẽ tồn tại lâu dài, linh mục chỉ là người được sai đến phục vụ trong thời gian nhất định. Tham gia cộng tác làm việc chung là vì giáo xứ, vì vinh quang Thiên Chúa, vì phần rỗi các linh hồn chứ đừng biến mình chỉ thành cộng sự viên của một linh mục nhất định.
|