Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com
Javascript DHTML Drop Down Menu Powered by dhtml-menu-builder.com
 
Loading

 


Free counters!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Thông Tin > Kiến Thức Công Giáo >  

 

Thắc mắc

Ông bà nhạc gia của con mới được rửa tội theo đạo Công Giáo cách nay ba năm, sau khi đã chung sống theo hôn thú đời 47 năm và đã có sáu mặt con với nhau.  Sau khi Ông bà đã rửa tội, có cần hay có nên hay có phải nhận bí tích hôn phối không? Đây cũng là thắc mắc của nhiều người, xin Cha giúp trả lời.

Ông Bà nhạc gia của anh không cần và cũng không phải làm gì thêm để nhận bí tích hôn phối. Vì hôn nhân dân sự, thành sự và không bí tích của hai ông bà xảy ra bốn mươi bảy năm trước giữa hai người chưa được rửa tội đã thành hôn nhân có bí tích lúc hai Ông Bà được rửa tội cách nay ba năm.

Thế nào là hôn nhân thành sự hay thực sự là hôn nhân?

  1. Tự do hay không bị luật cấm: Đó là hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà không bị luật cấm kết hôn, tức họ có quyền kết hôn. (GL. Điều 1058).

Thí dụ người bị luật cấm kết hôn:
Người đã kết hôn và hôn nhân hiện tại vẫn còn hiệu lực thì “bị luật cấm kết hôn”
Linh mục hay tu sĩ khấn trọn “bị luật cấm kết hôn!”

  1. Tự do và hiểu biết trao đổi lời ưng thuận kết hôn: Đó là hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà mà sự ưng thuận kết hôn được biểu lộ cách hợp pháp và hoàn toàn tự do cũng như trong tình trạng sáng suốt, hiểu biết đầy đủ về đời sống hôn nhân. (G.L. 1057)

 

Khi một người đàn ông và một người đàn bà tự do và có đủ hiểu biết trao đổi lời ưng thuận kết hôn trước mặt người có thẩm quyền chứng hôn và hai nhân chứng thì thành sự và có giá trị hôn ước. Khi một người nam và một người nữ đến lập hôn thú trước Toà Hoà Giải (Justice of the Peace) với hai nhân chứng thì hôn nhân đó thành sự và nếu họ đã hoàn hợp, tức đã giao hợp vợ chồng thực sự và có con cái như trường hợp Ông Bà nhạc gia của anh thì không ai có quyền tháo gỡ, dù đó là hôn nhân không bí tích.

Hôn nhân thành sự không bí tích không là hôn nhân xấu hay bất hợp luật hay vô giá trị hay muốn huỷ bỏ tuỳ ý. Không! Đó là hôn nhân tự nhiên theo luật Chúa. Nói khác đi, đó là hôn nhân của con người sống trước Chúa Giêsu hay của Ông bà tổ tiên chúng ta. Đó là hôn nhân tự nhiên theo luật Chúa và hưởng đặc tính đơn hôn và vĩnh hôn (essential properties of marriage are unity and indissolubility) (GL. Điều 1056)

  1. Mục đích: Mang thiện ích cho nhau và sinh sản con cái: Đó là “Do giao ước hôn phối, người nam và người nữ tạo nên với nhau một cuộc thông hiệp trọn cả cuộc sống. Tự bản tính, giao ước hôn phối hướng về thiện ích của đôi bạn và việc sinh sản cùng giáo dục con cái.  Chúa Kitô đã nâng giao ước hôn phối giữa người đã chịu phép rửa tội lên hàng Bí Tích” (GL. Điều 1055 §1)

Cần phân biệt từ ngữ:
Đám cưới: Là tiệc cưới tức wedding banquet. Từ banquet bắt nguồn từ tiếng Pháp banquet. Banquet phát xuất từ chữ banc cũng trong tiếng Pháp có nghĩa là bench trong tiếng Anh và băng ghế ngồi trong tiếng Việt mình. Vậy tiệc cưới là một bữa tiệc lớn mời nhiều khách đến ngồi chung trên “cùng một băng ghế” ăn uống và chúc mừng đôi tân hôn.

Như vậy tiệc cưới chỉ là chuyện giao tế xã hội, khách được mời đến ăn và chung vui với đôi tân hôn chứ không đóng góp gì trong việc nhìn nhận hôn nhân thành hay bất thành. Giáo Luật Công Giáo không quan tâm đến đám cưới hay tiệc cưới. Đám cưới hay tiệc cưới dù lớn cách mấy cũng không là yếu tố quyết định làm hôn nhân thành sự. Nghi thức hợp thức hoá một hôn nhân bất thành và đã có đám cưới sẽ không bao giờ yêu cầu hay đề cập đến chuyện phải đãi tiệc cưới lại. Cũng đừng nghĩ rằng: Khi mới khách ăn cưới có nghĩa là khách phải nhìn nhận hôn nhân nầy thành sự.

Hôn nhân:  tức marriage là việc một người đàn ông và một người đàn bà có khả năng và có tự do kết hôn đã đồng ý kết hôn nhằm mang thiện ích cho nhau cũng như thực hiện sứ mạng truyền sinh nhân loại. Hôn nhân là chuyện tự nhiên, tốt và nằm trong chương trình của Thiên Chúa như được ghi lại trong sách Sáng Thế Ký. Thiên Chúa tạo dựng nên con người có nam có nữ và muốn họ luyến ái với nhau để sinh sôi nẩy nở cho đầy mặt đất (STK. 1:28 và 2:21-25)

Nghi thức hôn phối: Wedding ceremony hay cũng gọi matrimony có thể xảy ra ở gia đình, ở toà án, ở nhà thờ hay ở một nơi nào mà hôn nhân được phép xảy ra. Cách chung có hai loại nghi thức:

Nghi thức hôn phối dân sự thường xảy ra trước mặt Thẩm Phán Toà Hoà Giải (Justice of the Peace) với sự hiện diện của hai nhân chứng. Ỡ đây, đôi hôn nhân trao đổi lời ưng thuận chấp nhận nhau làm vợ chồng để yêu thương nhau cũng như sinh sản và giáo dục con cái.

Nghi thức hôn phối công giáo: Có thể là Thánh lễ Hôn Phối (Wedding Ceremony within Mass – gọi tắt là Wedding Mass) hay cũng có thể chỉ là nghi thức hôn phối thôi (Wedding ceremony without Mass). Đôi nam nữ đến cơ quan hộ tịch của chính phủ lập xin hôn thú dân sự (marriage licence) theo kiểu không hoàn tất, tức nhân viên hộ tịch sẽ để trống phần còn lại cho cô dâu chú rễ, cho nhân chứng và cho linh mục ký nhận sau lễ nghi hôn phối đạo đã cử hành.

Nghi thức hôn phối có thể được cử hành bởi Giám Mục hay cha sở của đương sự. Nghi thức hôn phối cũng có thể được cử hành bời linh mục hay thầy phó tế được uỷ quyền bởi Giám Mục hay Cha Sở (GL. Điều 1108§1 và 1111§1) Nghi thừc hôn phối cũng có thể được chứng hôn bởi một giáo dân được Giám Mục uỷ quyền (1112§1)

Giám Mục, cha sở, linh mục, Thầy phó tế hay giáo dân được chứng hôn trong nghi thức hôn phối công giáo không là người ban bí tích, nhưng chỉ là người chứng kiến bằng mắt thấy và bằng tai nghe việc đôi hôn nhân trao đổi lời ưng thuận đang xảy ra. Nên những câu nói như “Cha John làm đám cưới cho chúng tôi năm năm trước” (Father John married us five years ago) không đúng lắm. Thực tế và đúng luật là đôi hôn nhân cưới nhau, Cha John chí chứng hôn thôi. Nên phải nói là “Cha John làm lễ hôn phối hay Cha John cử hành nghi thức hôn phối hay Cha John chứng hôn cho chúng tôi”.

Hôn ước: Giáo Luật Công Giáo dùng cả hai từ để chỉ hôn ước, tức lời kết ước hôn nhân:

Giao Ước hôn nhân (Matrimonial covenant): Từ giao ước nói lên lời thề giữa Thiên Chúa và con người xảy ra nhiều lần trong Kinh Thánh Cựu Ước. Thí dụ sau khi Lụt Đại Hồng Thuỷ, Chúa thiết lập giao ước bằng việc lấy cầu vòng làm dấu chỉ để thề rằng: Chúa sẽ không phạt dân như vậy nữa và dân không phạm tội nữa (Sáng Thế Ký 9:11-17)

Nên giao ước có nghĩa là hôn ước với lời thể thuỷ chung tuyệt đối, không bao giờ thay đồi mà chúng ta quen gọi là trung thành.Vì đôi vợ chồng thể hứa trung thành yêu thương nhau dưới sự chứng giám của Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng trung thành tuyệt đối.

Khế ước hôn nhân (Matrimonial contract): Là một đồng thuận, một giao kèo được giữa một người nam và một người nữ được bày tỏ tự do và công khai trước những nhân chứng có thẩm quyền như linh mục và hai nhân chứng. Từ khế ước (contract) diễn tả những đòi buộc trong giao ước hôn nhân về mặt pháp lý hay thủ tục dân sự.    

Những thí dụ về: hôn nhân thành sự có bí tích (Sacramental marriage) và hôn nhân thành sự không bí tích (valid but not sacramental marriage).
      

  1. Hôn nhân thành sự và có Bí Tích (Valid and Sacramental marriage): Hôn nhân giữa hai người được rửa tội, thành sự và có bí tích. 
  1. Một người đàn Ông Công Giáo và một người đàn bà công giáo kết hôn trước một linh

mục công giáo và hai nhân chứng. 

b)   Một người đàn bà Anh giáo và người đàn ông rửa tội trong Giáo Hội Trưởng lão (Presbyterian Church) kết hôn trước Thẩm Phán Hòa Giải (a Justice of the Peace) sau khi đã được giáo quyền của họ chuẩn nhận. 

c)   Người đàn bà rửa tội bên Anh Giáo và một người đàn Ông công giáo kết hôn trước mặt linh mục công giáo và hai nhân chứng sau khi đã được phép kết hôn hỗn hợp (mixed marriage) 

d)   Hai người, một người đàn bà và một đàn ông cùng rửa tội bên Giáo Hội Luther kết hôn trước Mục sư của Giáo hội Luther. 

  1. Hôn Nhân thành sự nhưng không có bí tích (valid but not sacramental marriage)

 

  1. Một người đàn ông công giáo và một người đàn bà Phật Giáo (chưa hề được rửa tội)  kết hôn trước mặt linh mục cộng giáo và hai nhân chứng sau khi đã được miễn chuẩn dị giáo (dispensation for disparity of Cult)
  2. Hai người, một đàn ông và một đàn bà chưa hề được rửa tội trong bất cứ Giáo Hội nào, cả hai có thể là Phật Giáo, kết hôn trước Thẩm Phán Hòa Giải (a Justice of the Peace). 

Những lưu ý quan trọng về những thí dụ trên: 

  1. Hai người, một đàn ông và một đàn bà, nếu đã được rửa tội thành sự, không nhất thiết phải rửa tội Công Giáo, kết hôn có bí tích (Sacramental marriage - xem lại thí dụ I – 2 bên trên) 

 

b)   Như vậy hôn nhân có bí tích là hôn nhân giữa hai người đã rửa tội thành sự (GL. 1055) Hôn nhân tự nhiên xảy ra giữa hai người không ai được rửa tội hoặc chỉ một người được rửa tội. 

c)   Chúng ta hay nghe nói về tiêu hủy hay tháo gỡ hôn nhân (dissolution of the marriage bond) Thoạt nghe ai cũng nghĩa rằng: Đức Thánh Cha, hay các Giám Mục hay Tòa Án Hôn Phối có quyền tuyên bố hủy bỏ hôn nhân của người khác. 
      
Không ai có quyền đó kể cả Đức Giáo Hoàng, vì Chúa đã nói “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly hay tháo gỡ” (Matthêu 19:3-6) 

            Như vậy sao lại có chuyện tháo gỡ xảy ra hàng ngày trong Giáo Hội?  
           
Giáo Hội hiểu “sự gì Thiên Chúa đã liên kết” là những hôn nhân có bí tích và đã hoàn hợp – Ratum et consumatum – ratified and consummated). Đó là hôn nhân của hai người có rửa tội và họ đã thật sự chung sống đời vợ chồng bằng sự giao hợp đúng nghĩa và đúng cách của con người (humano modo - human manner – GL. 1061§1). Không ai có khả năng tiêu hủy hay giải gỡ, chỉ trừ cái chết (No man must not divided – GL.1141)

            Những chuyện chúng ta thấy và nghe nhiều là chuyện toà án hôn phối tuyên bố những hôn nhân bất thành ngay từ đầu. Người ta hay dùng từ annulment hay nullity tức sau khi đã điều tra và đã hội dủ những bằng chứng, toà án hôn phối tuyên bố: Hôn nhân giữa Ông Xoàì và Bà Mận đã xảy ra 10 năm trước tại nhà thờ Vườn Ổi là NIL NONENEVER BEEN EXISTEDKHÔNG THÀNH, vì Ông Xoài đã xỉn rượu khi trao đổi lời ưng thuận.

Nên toà án hôn phối không hề và cũng không thể huỷ bỏ hôn nhân của ai cả. Đúng hơn họ chỉ có quyền tuyên bố: Cái mà người ta tưởng đâu là hôn nhân thành sự giữa Ông Xoài và Bà Mận mưới năm trước ở nhà thờ Vườn Ổi thực sự không là hôn nhân gì cả. Vì Ông Xoài, người đang say rượu lúc đó, tức người không có lý trí sáng suốt, đã trao đổi lời ưng thuận kết hôn mà ông thực lòng không muốn. (G.L. điều 1095)

            Lm. Phêrô Trần thế Tuyên

 

 

Trang Nhà | Liên Giáo Sĩ | Thông Tin | Phụng Vụ | Mục Vụ | Tác Phẩm | Suy Niệm | Đời Sống

Copyright ©2010. All rights reserved